Giới thiệu sơ lược về Phường Hàng Đào

Phường Đại Lợi tập trung người làng Đan Loan chuyên nghề nhuộm tơ lụa có từ thời Trần – Hồ, qua thời hậu Lê thì đã sầm uất (theo địa dư chí của Nguyễn Trãi). Phố tất nhiên cũng hình thành rất sớm dọc trên con đê gần Hồ Gươm. Những biến cố chính trị cuối thế kỷ 18 đã ảnh hưởng đến khu phố này. Theo sách “Vũ trung tuỳ bút của Phạm Đình Hổ có kể đến quang cảnh phồn hoa của mấy phố – Hàng Bạc buôn bán giàu có, đồng thời cũng là nơi bày ra những thói nhũng nhiễu của bọn có quyền thế và thủ đoạn lừa lọc của bọn lưu manh. Sau ngót năm mươi năm phục hồi ở nửa đầu thế kỷ 19, lại đến những sự biến của những năm 1873 và 1882 làm dân cư phải thất tán, buôn bán đình trệ, để rồi chờ tình hình tạm yên lại trở về làm ăn./images/post/2015/07/01/03//201211-104.jpg

Nguồn Internet

Cho đến thế kỷ 20, phố Hàng Đào vẫn thua kém phố Hàng Ngang (Phố của người Minh Hương và khách trú Quảng Đông), mặc dù Hàng Đào là phố giàu nhất Việt Nam. tại đây không có nhà nào xây dựng to lớn, nhà ngói vẫn còn lẫn nhà tranh. Một số ít nhà có gác thấp, cửa sổ nhỏ trông xuống phố kín đáo. Một phố dài chừng hai trăm năm mươi mét mà hai bên mặt phố có tới dăm chục nóc nhà, tức là đổ đồng bè rộng của mỗi cửa hàng trung bình chỉ có dăm thước. Bên phía Tây là dãy số chẵn, bên phía Đông là dãy số lẻ, cửa ngoài thì ngang với mặt đường, nhưng càng đi sâu vào trong nhà , mặt đất càng thấp xuống, lý do là phía bên đó nguyên là giải hồ rộng cũ được lấp đi, mặt hồ so với mặt đê, tất nhiên thấp hơn. Phía bên phải (số chẵn) không có cống thoát nước thải, hay bị ứ đọng nước. Cũng như tất cả các phố thời ấy, trên cao thì có những mái nhà nhấp nhô mái cao, mái thấp không đều, phía ngoài cửa thì so le, nhà nhô ra thụt vào; phố chưa có vỉa hè, lát đá lổn nhổn. Nhiều nhà cổ vẫn còn sót lại đến ngày nay.

Hàng Đào vẫn được coi là phố chính của Hà Nội. Phố Hàng Đào là nơi buôn bán lụa là vóc nhiễu với nhiều màu sắc đẹp đẽ, và người Hàng Đào vẫn được tiếng là người thanh lịch, con người của “kinh kỳ” kiểu cách đến thành cầu kỳ hào nhoáng.

Là phố buôn bán có từ lâu đời và buôn bán những thứ hàng đắt tiền, Phố Hàng Đào có nhiều nhà giàu, vốn liếng to. Có  những gia đình sinh sống qua nhiều thế hệ ở phố Hàng Đào, số đông là người gốc làng Đan Loan (họ Phạm, họ Lê), làng Đình Loan(họ Nguyễn), làng Đông Cao (Bắc Ninh); họ Vũ Đông Cao ít ra cũng đã có tới bốn năm đời. Những gia đình nhà nho quan lại quý tộc thường thông gia với nhau; nhà giàu kén rể làm quan để thêm danh giá, cũng như người ta đã có danh vị muốn có vợ nhà giàu. Cho cả mãi đến những năm thập niên 30 – 40 mới đây, con gái Hàng Đào còn truyền nhau khẩu hiệu: “Phi cao đẳng bất thành phu phụ”, con gái Hàng Đào khá đông trở thành bà Phủ bà huyện, vợ bác sĩ kỹ sư, dược sĩ, xoàng thì cũng là bà tham bà phán. Mà con gái Hàng Đào vẫn được tiếng là xinh đẹp, ăn mặc lịch sự, thêm là con nhà gia thế.

Nguồn Internet

Hàng Đào thời kỳ cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20 còn là phố  chỉ buôn tơ bán hàng tấm. Nghề buôn tơ sống cốt tinh mắt đánh giá được chất lượng khi tơ chưa khô, mua thế nào để có lãi; các bà mmới giàu kinh nghiệm. Những nhà buôn thuần tơ không mở cửa hàng. Hàng mua cất trong nhà, người các làng Hà Đông mua về dệt, vào tận trong nhà xem hàng ăn giá. Cửa hàng tấm cũng đơn giản: ngả cánh cửa lùa kê lên mễ, bên ngoài bày vài cái thạp chè cũ, trên treo những giải lụa màu sặc sỡ. Bên trên cửa có chiếc màn vải che nắng. Quanh tường là tủ đựng hàng, trong xếp những cuốn vác nhiễu giả ( chỉ có lượt ngoài trong là lõi giấy) làm quản cáo, còn hàng thật  thì đựng trong những bao sơn để ở trong cùng, có khách hỏi mua mới lấy ra. Các bà các cô bán hàng ngồi trên bục bên trong; cạnh cửa là “cô ngồi hàng”, tức là những cô gái làm công chào khách, ngày đến làm, tối về nhà mình.

Khách nhà quê về Hà Nội mua sắm vải lụa quý để may mặc trong dịp cưới xin, hội hè đình đám, cứ sợ thói nói thách và cách cho xem hàng của các hiệu buôn Hàng Đào.

Phố Hàng Đào đông vui nhất vào những ngày phiên chợ, ngày mùng một và mùng sáu hàng tháng: người các làng La Cả, La Khê ra bán the, người Đại Mỗ bán hàng cấp lụa đũi; gấm vóc thì cấp của người làng Vạn Phúc, lĩnh của người làng Bưởi. The  lụa đũi vẫn còn để mộc; đến lượt những người ở chợ Dầu (Đình Bảng), ở Hàng Bông Nhuộm, Tây Hồ đến nhận về nhuộm thâm. Những người ở phố Cầu Gỗ, Bưởi thì nhận về nhuộm màu hay chuội trắng. Những người thợ cửi ở Hà Đông  ra Hà Nội bán xong hàng, lại tìm mua tơ của các nhà buôn  ở Hàng Đào, Hàng Gai để làm hàng cho phiên chợ sau.

Đấy là quang cảnh Hàng Đào những năm của thập niên đầu. Từ sau chiến tranh thế giới thứ I, Hàng Đào đã có nhiều thay đổi. Trước hết là xuất hiện những hiệu “Tây Đen bán vải”: đó là những người ấn Độ ở năm tỉnh thuộc địa Pháp, chuyên bán lẻ và bán buôn các thứ vải bông khổ rộng màu trắng, đen, xanh, kaki, của các hàng nhập khẩu Pháp. Họ trả tiền thuê nhà cao, dần chiếm đến vài chục cửa hàng ở Hàng Đào và đầu Hàng Ngang. Những cửa hàng Tây Đen này hầu hết ở bên chỗ chẵn, ngôi nhà ở đầu phố là to nhất. Khách đi qua quãng phố này thấy chiều chiều khoảng 6 giờ trong nhà toả ra sặc mùi sạ của hương đốt.

Nguồn Internet

Số cửa hiệu chuyên bán tơ lụa cũng thu hẹp dần;  nhiều nhà buôn lụa  quay sang kiêm bán cả hàng vải bông như hiệu Tây Đen. Cách bài trí cửa hiệu cũng thay đổi giống như cửa hiệu Tây Đen, tức là có tủ kính, quầy hàng, biển hàng bằng chữ quốc ngữ chữ Tây.

Nhiều nhà quyền quí cho thuê lại cửa hàng, rút vào ở nhà trong, hoặc bán nhà Hàng Đào dọn sang phố khác. Tuy nhiên vẫn có những gia đình giữ được cái truyền thống buôn tơ làm giàu, mẹ truyền lại nghề cho con dâu, con gái.

Nhiều chủ hiệu từ nơi khác đến ở Hàng Đào, đa số là người Khúc Thuỷ, Cự Đà, Kim Lũ (Hà Đông), Phù Lưu, Đình Bảng (bắc Ninh), xuất thân bằng nhiều cách khác nhau. Nghề buôn bán phải cạnh tranh nhau ráo riết và làm nảy sinh nhiều  sáng kiến : ngoài việc trang trí cửa hàng để câu khách, có một hiện tượng độc đáo riêng của Hàng Đào là mỗi cửa hàng bán vải lụa của người Việt Nam đều treo hình một con thú bằng tôn, bằng gỗ sơn. Có lẽ để  khách hàng nông thôn nhớ nhà hàng cho dễ, hoặc đã mua một lần, hoặc đọc trong quản cáo. Và các “cô ngồi hàng” xưa của cửa hàng  đã nhường chỗ cho những “thằng nhỏ” có nhiệm vụ coi hàng, chèo khéo khách còn lưỡng lự trước cửa hàng, phát những tờ quản cáo màu xanh đỏ vẽ hình con thú của cửa hàng. Phố Hàng Đào không còn chuyên bán tơ lụa vải tấm. Mấy hiệu tạp hoá bắt đầu chen vào giữa đám cửa hàng vải. Tạp hoá bán ở Hàng Đào phải là những thứ hàng mới có, hàng mốt mới nhập của Paris; đó là những cửa hiệu bán mũ dạ, khăn quàng, ca vát, mùi xoa, phấn sáp, nước hoa, các đồ trang sức vàng bạc, vài cửa hàng dày da, cửa hàng ngoại. Cũng có vài cửa hàng vàng bạc, vài cửa hàng giày da, cửa hàng dệt kim, cửa hàng quần áo may sẵn.

Những cửa hàng tơ lụa của Hàng Đào (phần nhiều là hàng tơ lụa Việt Nam, rất ít hàng Tàu)

Hàng Đào là phố cổ, có những gia đình đến cư ngụ sinh sống lâu đời làm ăn giàu có, và không thiếu những nhà nho yêu nước. Nhà số 4 là gia đình cụ Cử Lương Văn Can, cha con anh em đều liên quan đến quốc sự hồi đầu thế  20. Lương Văn Can (1886 – 1927) người làng Nhị Khê, học trò trường  Ngô Văn Dạng có truyền thống Vũ Tông Phan, đỗ cử nhân, không làm quan; ông sáng lập ra Đông Kinh Nghĩa Thục, bị Pháp đầy vào Cao Miên, sau được về nhà và mất ở Hà Nội. Năm người con của Lương Văn Can đều là những người hoạt động cách mạng: Lương Trúc Đài (dạy Đông Kinh Nghĩa Thục, viết Nam quốc địa  dư) – Lương Ngọc Quyến(xuất dương theo phong trào  Đông Du, sau khi học ở trường quân sự Nhật Bản, về nước hoạt động, bị bắt đầy lên Thái Nguyên;  ông đã phát động cuộc binh biến trong đám  binh lính của thực dân do Đội Cấn cầm đầu , làm cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên năm 1917 bị tử trận) – Lương Ngọc nhiễm – con rể là Đặng Trần Long (nhà số 63) -  con gái ở nhà số 39 có cửa hàng tơ lụa.

Thứ đến những ông đồ nho hết thời, cố giữ mình trong sạch, bảo vệ đạo đức con người. Nhà số 6 có Hoàng Đạo Thành (con rể nhà sư phạm Dưỡng Am), đỗ cử nhân, làm giáo thụ, rồi bỏ chức về dạy học, tác giả Việt sử tân ước. Nhà số 21 là gia đình Vạn Tường, nhà nho không đi thi, ở nhà dạy học và chữa bệnh, làm phúc hơn là lấy tiền thuốc, thuộc loại nhà nho ghét Tây không thèm biết đến cả chữ Tây (nguời nhà  phải khai báo gì đều thuê trưởng phố).  (Hoàng Đạo Thuý), nhà số 29 là gia đình một cụ Đề thôi chức đề vì sợ thất đức (làm việc quan phải ác),  sống về  chiếc lò nung nồi đất ở trong ngõ Văn Tân.

Một gương mặt từ thiện của Hà Nội cũ: Bà Cả Mọc Hàng Đào (Nhà số 25). Bà tên là Hoàng Thị Uyển, còn gọi là bà Cả Vy, goá chồng sớm, có cửa hàng tấm trở nên giàu có; bà chăm làm việc thiện. Bà là người đứng lên bỏ tiền và hô hào bè bạn góp thêm lập ra Hội Kế Sinh Hàng Đũa để chăm sóc những trẻ con nhà nghèo lê la ngoài đường trong khi bố mẹ bận lao động kiếm ăn hàng ngày; đó là một nhà trẻ đầu tiên của Hà Nội (không lấy tiền) vừa trông nom vừa dạy dỗ trẻ  theo phương pháp giáo dục của một nhóm Hướng Đạo Sinh vạch ra. Bà Cả Mọc còn lập ra một  trại An dưỡng ở Phúc Yên thu nhận người già và tàn tật không chỗ nương tựa.

Hàng Đào cũng là một phố đông gia đình quan lại cao cấp, họ thường có quan hệ thông gia với nhau ở ngay trong phố.

Hàng Đào là đường phố giàu tiềm năng về các mặt lại có điều kiện kinh tế dồi dào nên nhanh chóng đổi mới theo thời đại,  một thế hệ trí thức mới ra đời, những kỹ sư, bác sĩ, dược sĩ con em gia đình quan lại cũ, nhà buôn giàu có  hoặc là rể của phố này.

Nguồn Internet

Một phong trào yêu nước mới về chiến lược và chiến thuật nổi lên ở Nam và Băc Trung bộ và lan ra miền Bắc: phong trào Duy Tân, cổ vũ sự thức tỉnh tinh thần của quần chúng đang bị tê liệt vì những hủ tục phong kiến, nó là một trong số nguyên nhân làm ta mất nước, tố cáo bọn thực dân bóc lột tài nguyên và nhân lực nhân dân ta, chính sách ngu dân kìm hãm dân ta, và lên án bọn quan lại tay sai vô lương tâm đi theo chúng

Cũng vì thế mà Đông Kinh Nghĩa Thục dùng danh nghĩa một trường dân lập, phổ biến kiến thức phổ thông  sử địa và khoa học thường thức, buộc chính quyền thực dân phải cho phép hoạt động. Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục do một nhóm nhà nho khoa bảng  có đầu óc tiến bộ, là cử nhân Lương Văn Can, cử nhân Nguyễn Quyền khởi xướng và được nhiều nhà nho khác hưởng ứng.

Đông Kinh Nghĩa Thục  có hai cơ sở đặt ở Hàng Đào. Một là nhà số 10, ngôi nhà khá rộng, bên trong có mấy lớp, cổng sau ra đến phố Hàng Quạt cũ (nay là phố Lương Văn Can). Tại đây Phan Chu Trinh đã ngụ một thời gian ngắn và diễn thuyết nhiều buổi. Một cơ sở nữa là nhà số 63 cũng là một ngôi nhà rộng nhiều gian trong, cổng sau đi sang sân đình Đại Lợi và thông với phố Gia Ngư.

Ảnh hưởng của Đông Kinh Nghĩa Thục lan rộng nhanh chóng. Nhiều nơi ở ngoại thành Hà Nội đến xin tài liệu giáo khoa và cũng mở lớp ở địa phương theo mẫu Đông Kinh Nghĩa Thục Hàng Đào.

Việc đó không khỏi làm cho chính quyền thực dân lo sợ, chúng tìm cớ rút phép hoạt động của Đông Kinh Nghĩa Thục, bắt hiệu trưởng Nguyễn Quyền phải tựu chức cũ. Nhà trường đã tồn tại được từ tháng 2 đến tháng 12 – 1907.

Cùng Danh Mục:

Liên Quan Khác

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *

You may use these HTML tags and attributes: <a href="" title=""> <abbr title=""> <acronym title=""> <b> <blockquote cite=""> <cite> <code> <del datetime=""> <em> <i> <q cite=""> <strike> <strong>